Đề suất mô hình “Cụm 1 Tàu mẹ – 5 Tàu con” trong việc đánh bắt và bảo quản cá ngừ

MÔ HÌNH “CỤM TÀU MẸ – TÀU CON” PHỤC VỤ ĐÁNH BẮT, BẢO QUẢN CÁ NGỪ ĐẠI DƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN 

ĐẶT VẤN ĐỀ.

Cá ngừ đại dương là một nguồn lợi hải sản được coi là có giá trị cực lớn với ẩm thực Nhật Bản, nguồn cung trên thế giới không nhiều mà nhu cầu của nước này như là không giới hạn. Vấn đề là chất lượng sau đánh bắt được bảo đảm theo tiêu chuẩn Nhật Bản. Đây là một hạn chế lớn của ngành đánh bắt cá ngừ của ngư dân chủ yếu thuộc vùng biển Phú Yên – Khánh Hòa  làm thất thu giá cá rất lớn.

Vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa, DK1  được coi là ngư trường của một số loài cá di cư, trong đó có cá ngừ đại dương. Từ lâu thuộc ngư trường gần như truyền thống phát triển nghề câu cá ngừ đại dương. Nghề câu cá ngừ đại dương đã được hình thành, duy trì và phát triển mạnh cho đến nay.

Nghề câu cá ngừ đại dương, (cũng như các nghề vây, rê…) cần thiết phải có tàu lớn là tàu có hệ thống bảo quản lạnh cá ngừ đạt tiêu chuẩn Nhật Bản là nước nhập cá ngừ lớn nhất thế giới. Hiện trạng đánh bắt nhỏ lẻ của ngư dân như hiện nay, do phương tiện tàu thuyền lạc hậu, nhỏ bé… cho thấy hiệu quả thấp, thiệt hại kinh tế rất lớn do chất lượng bảo quản lạnh cá ngừ không đạt. Tàu thuyền đánh bắt nhỏ nên phải di chuyển hải trình dài, thời gian khai thác ngắn, rất tốn chi phí nhiên liệu cho một lần ra khơi.

Phương tiện đánh bắt của ngư dân miền Trung hiện nay, đa số các tàu  bảo quản cá ngừ bằng nước đá xay. Quá trình đánh bắt một lần kéo dài trong nhiều tháng, chất lượng cá bảo quản đá không đạt làm giá thành chỉ còn khoảng 40% so với cá ngừ giữ đảm bảo chất lượng trên tàu hiện đại.

Thực trạng trên không chỉ ở nghề câu cá ngừ đại dương.  Bộ NN&PTNT đã chủ trương thành lập các tổ đội sản xuất theo nghề và theo địa phương, trong đó có phương án thiết lập mô hình cụm khai thác đánh bắt xa bờ theo cụm dịch vụ Tàu mẹ – nhiều tàu con.

Căn cứ nhu cầu và thực trạng của địa phương, vào điều kiện và trình độ kỹ thuật trong nước hiện nay, Viện NCCT Tàu Thủy kết hợp với Hội Nghề cá Khánh Hòa nghiên cứu đề xuất giải pháp “Lựa chọn quy mô tổ đội sản xuất và chủng loại tàu mẹ phù hợp với nghề câu cá ngừ địa phương”, với hy vọng sẽ góp phần vào việc nâng cao hiệu quả khai thác và bảo quản loại thủy sản đặc thù này.

NỘI DUNG

Phần 1: Lựa chọn quy mô tổ đội sản xuất tàu mẹ – tàu con, trên cơ sở đó xây dựng nhiệm vụ thư thiết kế cho tàu mẹ;
Phần 2: Xây dựng hồ sơ thiết kế mẫu tàu mẹ;
Phần 3: Đánh giá chung.
Phần 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC LỰA CHỌN VÀ ĐỀ SUẤT MÔ HÌNH “CỤM TÀU MẸ- TÀU CON”

  1. Lựa chọn quy mô “cụm tàu mẹ -tàu con”
    1.1 Đặc tính kỹ thuật tàu câu cá ngừ của ngư dân miền Trung

    Theo số liệu thống kê,  một đội tàu câu cá ngừ đại dương của ngư dân miền Trung có từ 5-10 chiếc tàu gỗ. Các tàu gỗ này có các thông số thiết kế cơ bản như sau.
Tàu gỗ
–          Chiều dài                              : 16¸17m
–          Chiều rộng                            : 4.2¸4.5m
–          Chiều cao                             : 2¸2.5 m
–          Công suất máy                       : 200¸300 CV
–          Vận tốc trung bình                 : 8hl/h
–          Khoảng cách ngư trường       : 300 hải lý
–          Bán kính hoạt động                : 300¸350 hải lý
–          Nhiên liệu dự trữ                  : 6000¸8000 lít
–          Thời gian chuyến biển        : 15¸20 ngày
–          Sản lượng trung bình           : 1.5¸2.5 tấn.
–          Ngư dân                                 : 5-6 người
–          Nước ngọt dự trữ                  : 7000¸8000 lít
–          Thực phẩm
–          Đá dự trữ                               : 25 tấn
Tau go

 

Suốt thời gian đánh bắt khoảng 15-20 ngày, cá ngừ đánh bắt được sẽ được ướp đá lạnh đập vụn.
Khoảng cách từ bờ đến ngư trường đánh bắt cá, thời gian di chuyển từ bờ đến ngư trường và trở về cảng mất khoảng 5 ngày.Tính riêng chi phí nhiên liệu cho hành trình đi và về mất 60% tổng nhiên liệu cho một chuyến đánh bắt trên biển.

Hạch toán chi phí theo cách đánh bắt riêng của từng tàu cho một chuyến đánh bắt theo kiểu cũ bao gồm:
1)    Nhiên liệu di chuyển
2)    Nhiên liệu chi phí cho vận chuyển 25 tấn nước đá,
3)    Khoang bảo quản cá gồm đá lạnh được đập vụn (đá dăm phủ lên cá)
Trong đó, yếu tố 2) và +3) là cho việc bảo quản cá.
Trong thực tế với sản lượng đánh bắt 2,5 tấn thìi 1 tàu chỉ cần tối đa 10 tấn đá lạnh nếu có hầm trữ đá lạnh và trữ cá lạnh đạt yêu cầu cách nhiệt, chống tan chảy đá lạnh trong vòng  khoảng 0oC
Như thế, tốn thêm nhiên liệu vận chuyển, tàu bị giảm  dung tích chứa do phải chứa lượng nước đá lạnh lớn hơn bù vào do bị ta chảy nhanh.
Quan trọng hơn là khoang lạnh bảo quản cá đánh bắt được không đạt độ lạnh yêu cầu trong mỗi đợt đánh bắt dài ngày , chất lượng cá chỉ đạt 40% tiêu chuẩn xuất khẩu (theo cách này thì chỉ cá mới đánh bắt bảo quản lạnh 2-3 ngày mới đạt). Đây là thiệt hại sau thu hoạch quá lớn.
Những yếu tô trên cho thấy cần có một kế hoạch và giải pháp khả thi giải quyết các tồn tại như trên của cách đánh bắt, bảo quản truyền thống của ngư dân . Giúp cá đánh bắt được bảo quản tốt để hiệu xuất sau thu hoạch đảm bảo hiệu suất xuất khẩu cao nhất  trong khi chưa đủ nguồn lực có được tàu khai thác có buồng trữ lạnh hiện đại.

1.2 Đề xuất môhình đánh bắt cá xa bớ theo mô hình “cụm tàu mẹ – tàu con”.
–          Căn cứ vào đặc điểm kỹ thuật tàu câu cá ngừ của ngư dân miền Trung.
–          Kiểu hợp tác đánh bắt cá của ngư dân Việt Nam (thường chỉ ưa thích tổ đội vừa phải về số lượng, đặc biệt nếu tổ đội là những người có quan hệ họ hàng càng thích hợp).
–          Căn cứ điều kiện kỹ thuật của ngành đóng tàu Việt Nam hiện nay,

Nhóm nghiên cứu đưa ra phương án xây dựng mô hình “Cụm Tàu Mẹ – Tàu Con”. Qui mô đề xuất là một tàu mẹ + 5 tàu con làm mô hình thiết kế.

Trong cụm tổ hợp đánh bắt xa bờ này được phân công như sau:
–          Tàu mẹ : Có nhiệm vụ thu gom sản phẩm, cung cấp dầu, nước ngọt, đá, và các nhu yếu phẩm cần thiết khác cho đội tàu câu cá ngừ đại dương, đồng thời kiêm thêm nhiệm vụ khai thác.
–          Tàu con: Chỉ chuyên đánh bắt. Cá  sẽ được lưu trữ ở tàu mẹ.

  1. Yêu cầu đối với tàu mẹ
    2.1. Đặ
    c điểm kỹ thuật tàu mẹ
    2.1.1 Yêu cầu cơ bản:
    – Chứa nhiên liệu dự trữ, nước ngọt, nhu yếu phẩm cho 5 tàu con.
    – Trang bị hầm lạnh có hệ thống bảo quản nhiệt độ lạnh đủ tiêu chuẩn giúp giữ cá đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
    –          Có thể hoạt động khai thác độc lập
    –          Vùng hoạt động: Khu vực biển Hoàng sa và Trường sa
    –          Cấp tàu: Biển hạn chế 1; Có thể hoạt động an toàn trong sóng cấp 6-7;
    –          Tốc độ hành trình    : 9-11hl/g

2.1.2 Chọn vật liệu chế tạo tàu mẹ
Sử dụng vật liệu composite trong lĩnh vực tàu thuyền ở Việt Nam ngày càng phát triển.  Quá trình sử dụng cho thấy ưu điểm nổi bật của loại hình vật liệu này: nhẹ, bền trong môi trường biển, kín nước tuyệt đối, và đặc biệt rất phù hợp khi sử dụng để chế tạo các sản phẩm dùng trong bảo quản lạnh do hệ số toả nhiệt và hấp nhiệt thấp so với thép, và kín hơn nhiều so với vật liệu gỗ.
Vì vậy, mô hình “Cụm tàu mẹ – tàu con”, chọn tàu mẹ vỏ bằng composite, với kích cỡ có thể đáp ứng được nhu cầu. Việc thiết kế hầm lạnh có hệ thống bảo quản duy trì nhiệt độ lạnh theo yêu cầu là có ưu thế.
Tỗ đánh bắt là từng “Cụm 01 tàu mẹ + 4-5 tàu con”, tàu con là những tàu cá vỏ gỗ đang hoạt động câu cá ngừ đại dương hiện nay.

  1. Xác định dung tích của tàu mẹ
    3.1. Dung tích hầm chứa cá ngừ

    Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, tàu mẹ cần trang bị hệ thống lạnh với khả năng có thể duy trì hầm lạnh yêu cầu nhiệt độ xấp xỉ 0oC mới đạt tiêu chuẩn bảo quản cá đủ tiêu chẩn xuất khẩu. (Cá đánh bắt lên cũng cần thao tác đúng kỹ thật làm cá chết ngay theo qui trình kỹ thật “Cá ngừ đại dương – kỹ thuật đảm bảo chất lượng trên tàu cá” như hướng dẫn )
    Để chứa hết sản phẩm của tàu con, lượng cá tàu mẹ vừa khai thác vừa thu gom được là 10 tấn cá. (1)
    Thực tế cho thấy, nếu chỉ bảo quản bằng đá thông thường, tối thiểu phải duy trì tỉ lệ đá/cá là 2/1. Như vậy khối lượng đá để ướp cá tàu mẹ cần mang theo là 20 tấn.
    Khi đã trang bị hệ thống bảo quản lạnh đạt yêu cầu, chỉ cần khoảng 10 tấn đá là đủ. (2)
    Theo phân tích như trên với tổng sản lượng của đội tàu con là 10 tấn cá thì đội tàu con đã tiêu hao khoảng 20 tấn đá để ướp cá. Như vậy ngoài việc thu gom cá, tàu mẹ còn phải cung cấp thêm khoảng 20 tấn đá cho đội tàu con.(3)
    Từ (1), (2), (3): Dung  tích các hầm bảo quản trên tàu mẹ phải chứa được 40 tấn bao gồm: 10 tấn cá, 10 tấn đá để ướp và 20 tấn đá để cung cấp cho đội tàu con. Với hệ số dung tích khoang là 0,8 nên chọn dung tích tất cả các hầm bảo quản lạnh của tàu mẹ bằng 50 m3, bao gồm 6 hầm, dung tích mỗi hầm khoảng 8.5 m3, trong đó 3 hầm có trang bị hệ thống bảo quản lạnh có khả năng bảo quản được 10 tấn cá.

3.2. Dung tích hầm chứa nhiên liệu, nước ngọt
Thực tế, cứ  sau 7 ngày, đội tàu con lại được tàu mẹ cung cấp dầu, nước ngọt. Do đó mỗi lần ra khơi thì tàu mẹ phải cung cấp được cho đội tàu con khoảng 20 (m3) dầu, và 20 (m3) nước ngọt, đã tiêu hao trong 7 ngày đó.

3.3. Tính chọn hệ thống lạnh lắp đặt trên tàu mẹ.
3.3.1. Ưu điểm của tàu vỏ composite so với tàu vỏ gỗ trong việc bảo quản lạnh

–          Trong kết cấu cách nhiệt của hầm bảo quản lạnh, lớp vỏ ngoài của tàu vỏ gỗ không tham gia vào kết cấu cách nhiệt, còn lớp vỏ ngoài của tàu composite là hoàn toàn kín nước nên nó được dùng như là một lớp trong kết cấu cách nhiệt, do vậy sẽ tiết kiệm được chi phí khi làm hầm cách nhiệt và dung tích hầm tàu composite sẽ lớn hơn.
–          Hệ số dẫn nhiệt của các lớp trong kết cấu cách nhiệt của tàu composite như lớp vỏ ngoài, vỏ trong và lớp foam giữa là rất nhỏ nên tổn thất nhiệt của hầm lạnh do trao đổi với môi trường xung quanh cũng nhỏ. Do đó sẽ giảm được năng suất lạnh của hệ thống lạnh, từ đó tiết kiêm được chi phí đầu tư cho hệ thống lạnh.
3.3.2. Những lợi ích khi lắp đặt hệ thống bảo quản lạnh:
–          Do hệ thống lạnh luôn duy trì nhiệt độ cá ở 0oC nên không cần mang thêm đá bổ sung để ướp cá, từ đó giảm chi phí đầu tư đá ban đầu.
–          Khi ướp cá bằng đá thì sau một thời gian lớp đá bên dưới sẽ tan chảy, làm nhiệt độ cá ở đó tăng lên, dẫn đến cá bị hư hỏng nhiều.  Khi có hệ thống lạnh sẽ giữ cho đá trong hầm bảo quản không tan chảy, và nhiệt độ trong hầm luôn duy trì ở 0oC nên cá trong hầm luôn đảm bảo được chất lượng tốt sau bảo quản.
–          Hệ thống lạnh làm hạ nhanh nhiệt độ thân cá khi chuyển từ tàu con sang tàu mẹ, làm giai đoạn co cứng cơ và sự phân hủy do vi khuẩn diễn ra chậm hơn, nhờ đó, tăng chất lượng cá và tăng giá trị xuất khẩu.

3.4. Tính toán, trang bị hệ thống bảo quản lạnh
3.4.1. Điều kiện ban đầu

–          Khối lượng cá trong 1 hầm là 3.33 tấn.
–          Nhiệt độ cá khi chuyển từ tàu con sang tàu mẹ khoảng 10oC
–          Thời gian hạ nhiệt độ cá từ 10oC xuống 0oC: 18 giờ (theo [5], để đảm bảo chất lượng cá và không hình thành các độc tố gây nguy hiểm cho sản phẩm)
3.4.2. Tính năng suất lạnh cần thiết cho 1 hầm  để hạ nhiệt độ của cá từ 10oC xuống 0oC và  duy trì nhiệt độ cá ở 0oC

Theo các tài liệu [1], [3]:
–          Năng suất lạnh để hạ nhiệt độ cá từ 10oC xuống 0oC:

Qsp = 1.81 KW

  • - Năng suất lạnh để duy trì nhiệt độ cá ở 0oC:

Qdt = 0.52 KW

  • - Năng suất lạnh cần có của cụm máy lạnh đối với 1 hầm:

Q0 = Qsp + Qdt  = 2.33 KW = 3.17 HP

3.4.3. Lựa chọn hệ thống lạnh
Với năng suất lạnh yêu cầu cho mỗi hầm là 3,17Hp, do dó cần trang bị mỗi hầm một cụm máy lạnh của hãng EMERSON (công nghệ Mỹ), có năng suất lạnh mỗi cụm  là 4 HP, hệ thống được trang bị tủ điện điều khiển tự động nhiệt độ, có thiết bị tiết kiệm điện Dixell của Italia (khi nhiệt độ trong hầm đạt đến  0oC hệ thống điều khiển sẽ tự động ngắt, máy ngừng hoạt động. Khi nhiệt độ lên cao máy sẽ tự động chạy lại).
Trang bị hệ thống lạnh rời nhằm đảo bảo tính độc lập và tăng hiệu quả sử dụng khi sử dụng.
Giá thành của toàn bộ hệ thống lạnh trên tàu khoảng 300 triệu.

He thong Lanh EMERSON

 

 

4.Yêu cầu của thiết kế tàu mẹ

 

Từ kết quả phân tích trên cho thấy, để hoàn thành chức năng làm tàu mẹ cho nhóm 5 tàu con, tàu mẹ cần đáp ứng nhu cầu:=

  1. Sức chở : 100 – 110 tấn;
  2. Trang bị : hệ thống bảo quản lạnh nhằm duy trì nhiệt độ các hầm cá (được làm lạnh bằng đá xay) ở nhiệt độ khoảng 0-10oC;
  3. Hệ thống hầm bảo quản: dung tích khoảng 50m3 (nhằm đáp ứng đủ dung tích cho sản phẩm của 5 tàu con);
  4. Trang bị két chứa dầu dự trữ (để cung cấp cho tàu con) dung tích 30m3 và két chứa nước dự trữ (cung cấp cho tàu con) dung tích khoảng 20m3;
  5. Hệ thống cẩu bằng tay để di chuyển cá từ tàu con sang tàu mẹ và từ tàu mẹ lên bờ;
  6. Hệ thống tời phục vụ kéo dây câu và cá;
  7. Tốc độ hành trình : 9- 11hl/g (đảm bảo thời gian hải hành từ bờ ra ngư trường khoảng 2 ngày đêm);
  8. Vật liệu vỏ tàu: composite.

Với nhiệm vụ thư như trên, Viện NCCT Tàu Thủy đã thực hiện thiết kế 02 mẫu tàu cá xa bờ làm nhiệm vụ tàu mẹ cho đội sản xuất di động Tàu mẹ + 5 tàu con, bao gồm mẫu tàu một thân và mẫu tàu hai thân2

Sơ đồ thiết kế tàu mẹ

Tau2 than

 Phần 2: XÂY DỰNG HỒ SƠ THIẾT KẾ TÀU MẸ VỎ FRP

2.1.        MẪU TÀU MỘT THÂN
2.2.        MẪU TÀU HAI THÂN

 Phần 3:  ĐÁNH GIÁ CHUNG

3.1. Đánh giá sơ bộ hiệu quả 2 cách : Khai thác đơn (truyền thống) và “cụm tàu mẹ-con”
Mùa vụ khai thác chính trung bình 4 chuyến biển. Do vậy hiệu quả khai thác sẽ được xác định như sau:
3.1.1. Chi phí sản xuất chính khi khai thác đơn lẻ

–           Dầu : 7000 lít x 4 = 28.000lít (trong nhiên liệu dành cho việc đi về là 60%x28000 = 16.800 lít)
–           Đá cây: 25 tấn x 4 = 100 tấn;
–          Sản lượng cá trung bình : 8 tấn;
–          Lượng sản phẩm đạt yêu cầu: 40% x 8 = 3.2 tấn
–           Chi phí trung bình để có được 1 tấn cá đạt chất lượng
Dầu:  8750 lít

Đá:  31,25 tấn đá;

3.1.2. Khai thác theo tổ đội 1 tàu mẹ và 5 tàu con
-          Chi phí 01 vụ khai thác của 05 tàu con: 
           + Dầu cho 05 tàu con đi về: 5x 4200 = 21000 lít (chỉ đi về một lần/vụ)
            + Dầu cho 05 tàu con khai thác 04 chuyến: 5 x 2800 x 4 = 56000 lít;
            + Đá cho 5 tàu con ướp lạnh trong 04 lượt khai thác: 5 x 4 tấn x 4 = 80 tấn;
-          Chi phí 01 vụ khai thác của tàu mẹ:
+ Dầu đi về trong 04 chuyến: 4 x 7000 = 28000 lít
+ Dầu thu gom từ 05 tàu con (cự ly thu gom là 50 hải lý): 70 lít/g x 10giờ x 04 lượt = 2800 lít;
+ Dầu bảo quản 03 hầm lạnh: 10 lít/g x (100 giờ đi về + 40 giờ thu gom)x 4 chuyến = 5600 lít
+ Đá bảo quản 10 tấn cá lạnh/ chuyến x 04 chuyến: 40 tấn
+ Đá cung cấp cho 05 tàu trong 04 chuyến biển: 4 tấn x 5 tàu x 4 chuyến = 80 tấn

–          Chi phí của tổ đội khai thác:
+ Tổng chi phí dầu: 113400 lít
+ Tổng chi phí đá: 120 tấn

  • - Sản lượng cá: 40 tấn (tối thiểu)
    + Chất lượng bảo quản: 90%
    + Tổng sản lượng cá đạt yêu cầu: 36 tấn;
  • - Chi phí cho 01 tấn cá đạt chất lượng khi khai thác theo tổ đội:
    + Dầu: 3100 lít/tấn
    + Đá : 3,34 tấn

Cum 1 tau me - 5 tau con

 

3.2. Hiệu quả cực lớn do chất lượng cá bảo quản đạt tiêu chuẩn xuất khẩu

Khi cá ngừ đại dương đánh bắt được thao tác kỹ thuật bảo quản và ướp lạnh đạt tỉêu chuẩn tăng từ 40% theo kiểu đánh bắt cũ lên 80-90% do giải pháp “Cụm tàu mẹ-tàu con” được trang bi hệ thống bảo quản lạnh có thể tính hiệu quả kinh tế do bảo quản sau thu hoạch lên gấp đôi. Giá cá ngừ xuất khẩu là từ 12-20USD/kg.

Tính theo giá trị trung bình 10 tấn cá chỉ đạt tỷ lệ 40% xuất khẩu còn 4 tấn = 4000kg như sau:

4000kg x 12usd (giá từ 12-20usd/kg)

= 48000usd (đến 80.000 usd)

Nếu bảo quản đạt được tỷ lệ 80% cá sẽ có 8 tấn = 8000kg, giá thành như sau:

8000kg x 12usd (hoặc tới 20usd/kg)

= 96.000usd (hay lên đến 160.000 usd)

Hiệu quả  do bảo quản chất lượng cá tăng đến tỷ lệ 80-90% đạt tiêu chuẩn xuất khẩu  vượt trên cả sự tiết kiệm nhiên liệu, thời gian hải trình và sẽ mau thu lại nguồn vốn trang bị tàu mẹ

NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN 

  1. Về quy mô, mô hình tổ đội đánh bắt, bảo quản cá gồm “Cụm 01 tàu mẹ và 05 tàu con” như đề nghị là phù hợp.

Như đã trình bày ở phần I, để đảm bảo chất lượng cá khi bảo quản trên tàu con (trong thời gian tàu mẹ chuyển sản phẩm về bờ), thời gian cá chứa trong hầm tàu con không nên quá 2-3 ngày. Thời gian tối thiểu tàu mẹ thực hiện một chu trình vận chuyển khoảng 7 ngày, điều này ảnh hưởng đến chất lượng cá. Để giải quyết vấn đề này, giải pháp phù hợp như sau:

Đội sản xuất = 02 tổ sản xuất =  02 “cụm 1 tàu mẹ + 5 tàu con”

Với quy mô đó, chúng ta sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề trên, do lúc nào cũng có tàu mẹ tại hiện trường.

  1. Đề xuất nên chọn mẫu tàu hai thân làm tàu mẹ trong đội “Cụm tàu mẹ – tàu con” đánh bắt, bảo quản cá ngừ đại dương.  Tàu hai thân như đã phân tích cho thấy hiệu quả hơn về cả kinh tế và kỹ thuật.

Tau ca 2 than

Kiểu tàu hai thân (tham khảo)

 2. Hiệu quả bảo quản cá đạt tiêu chuẩn xuất khẩu là tối ưu và hiệu quả kinh tế lớn nhất đạt được trong khi nguồn lực rất hạn chế của ngư dân, giúp mau lấy lại vốn đóng tàu mẹ.

—————–

Mo hinh to san xuat tau me – tau con